Hà Nội đang làm gì để “hồi sinh những dòng sông chết”?
Không chỉ riêng sông Tô Lịch, cách đây nhiều năm, Hà Nội đã có quy hoạch và dự án để xử lý ô nhiễm nguồn nước sông Nhuệ, sông Đáy. Tuy nhiên, các dự án này đến nay vẫn… nằm trên giấy.
Chậm bổ cập nguồn nước, Tô Lịch sẽ thành sông khô
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, việc Hà Nội bổ cập nước sông Tô Lịch bằng giải pháp bơm chỉ là ‘giải pháp tình thế’, có thể chấp nhận được trong 10-15 năm.
LTS. Thời gian qua, câu chuyện Hà Nội đề xuất chi hơn 500 tỷ đồng để thực hiện dự án bổ cập nguồn nước từ sông Hồng vào sông Tô Lịch nhằm “hồi sinh” dòng sông “chết” nhận được sự quan tâm đặc biệt của người dân. Thông qua Báo Nông nghiệp Việt Nam, giới chuyên gia, nhà khoa học và cơ quan quản lý chuyên ngành cùng “mổ xẻ” phương án của Hà Nội, đồng thời đề xuất các giải pháp trên tinh thần xây dựng để cùng chính quyền Thủ đô “giải” bài toán trước mắt và lâu dài cho tất cả các dòng sông ô nhiễm.
Tổng Bí thư, Thủ tướng rất quan tâm và chỉ đạo quyết liệt
Vừa qua, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà yêu cầu UBND TP Hà Nội triển khai ngay dự án bổ cập nước sông Tô Lịch, nhất là khi 100% nước thải dọc theo dòng sông được thu gom về Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá. Đồng thời, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ NN-PTNT, Bộ Xây dựng, Bộ TN-MT phối hợp, hướng dẫn và hỗ trợ Hà Nội sớm hoàn thiện thủ tục để triển khai dự án “hồi sinh” sông Tô Lịch. Ngày 22/2, Báo Nông nghiệp Việt Nam có cuộc trao đổi với Thứ trưởng Bộ NN-PTNT (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Hoàng Hiệp về vấn đề này.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp trao đổi với Báo Nông nghiệp Việt Nam về giải pháp trước mắt và lâu dài hồi sinh các dòng sông nội đô của Hà Nội. Ảnh: Minh Phúc.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, hiện nay, tình trạng ô nhiễm nguồn nước tại nhiều tuyến sông rất nặng nề. Thậm chí có nhiều dòng sông bà con hay gọi là “sông chết”, vì bản thân nó không có dòng chảy và là trung tâm hứng nước thải hằng ngày.
Ngoài góp phần tạo ra hệ sinh thái cân bằng, phục vụ đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, các dòng sông còn cung cấp nguồn nước đầu vào của hệ thống công trình thủy lợi. Nếu nước trong hệ thống thủy lợi không sạch thì chúng ta không thể có nông sản sạch. Do đó, hiện tại, chúng tôi đang phối hợp với các địa phương, cơ quan liên quan để rốt ráo xử lý, hy vọng vấn đề này sẽ được xử lý bài bản, căn cơ hơn.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp lấy ví dụ, với hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải, Tổng Bí thư hay Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm và chỉ đạo quyết liệt. Công trình đầu tiên mà ngành nông nghiệp làm để hiện thực hóa vấn đề này là xây dựng Trạm bơm dã chiến Xuân Quan (tại khu vực cống Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Đây là công trình mang tính giải pháp tình thế nhằm bổ cập nguồn nước cho sông Bắc Hưng Hải vào mùa kiệt, mực nước sông Hồng tụt xuống quá thấp.
“Nhưng, sau khi đưa trạm bơm được đưa vào vận hành thì một điều rất đáng mừng là trong giai đoạn lấy nước đổ ải phục vụ gieo cấy vụ đông xuân (2024-2025) vừa qua, chúng tôi đi kiểm tra các địa phương ở Hưng Yên, Hải Dương thì 100% bà con nông dân đều khẳng định là năm nay nguồn nước không còn bị ô nhiễm. Nguyên nhân là trước khi cấp nước vào đồng ruộng phục vụ đổ ải, Trạm bơm dã chiến Xuân Quan đã bơm nước từ sông Hồng để đẩy dòng nước của sông Bắc Hưng Hải”, thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp thông tin. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, đó chỉ là giải pháp tạm thời để giải quyết vấn đề cấp bách trước mắt. Về lâu dài, vẫn phải xử lý để các dòng sông không phải là sông “chết” nữa. Các dòng sông không phải là nơi hứng chịu nguồn thải ô nhiễm nữa.
Dùng bơm bổ cập nước cho sông Tô Lịch: Chỉ là giải pháp tạm thời
Câu chuyện thứ hai mà Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp đề cập, đó là vừa qua, khi làm việc với Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm giao cho Hà Nội không chỉ giải quyết ô nhiễm cho dòng sông Tô lịch mà là khôi phục lại, trả lại nguyên trạng các dòng sông như ngày trước. Hà Nội đã trình Thủ tướng Chính phủ phương án bổ cập nguồn nước sông Hồng vào sông Tô Lịch bằng biện pháp bơm, và chúng tôi cũng đã chủ động tham gia cùng với Hà Nội để đưa ra các giải pháp.

Sông Tô Lịch đoạn chạy dọc theo đường Láng, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ảnh: Kiên Trung.
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cũng thẳng thắn chia sẻ rằng: “Thực ra, phương án giải quyết một dòng sông như Tô Lịch thì còn rất nhiều ý kiến khác nhau. Đó là điều đương nhiên, vì khôi phục một dòng sông không đơn giản. Đầu tiên là phải thu gom nước thải, để nước bẩn không đổ ra sông Tô Lịch, thì Hà Nội đang làm. Và dự án thu gom nước thải về Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì) chắc chắn sẽ hoàn thành trước ngày 30/4/2025.
Vấn đề thứ hai là bổ cập nước thế nào? Bởi vì khi không còn nước sinh hoạt, nước thải đổ vào sông Tô Lịch thì nó không còn là sông “chết” nữa mà là sông khô trơ đáy. Mà sông khô sẽ gây ra rất nhiều vấn đề về sụt lún, bụi bẩn, thậm chí còn nguy hiểm hơn cả một dòng sông “chết”. Như vậy, phải cấp bách bổ cập nguồn nước cho sông Tô Lịch bằng giải pháp bơm.
Hà Nội đang trình phương án làm đường ống thông qua đường Võ Chí Công, sau đó đưa nước vào hồ lắng và bổ cập cho sông Tô Lịch. “Tôi cho rằng đây là giải pháp tình thế, có thể chấp nhận được trong 10-15 năm, còn về lâu dài thì thành phố không thể bỏ tiền mãi để bơm nước được vì rất tốn kém”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nói.
Xây 3 đập trên sông Hồng, sông Đà, sông Đuống để ‘trả lại nguyên trạng cho các dòng sông’
Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, để giải quyết vấn đề lâu dài, như Tổng Bí thư chỉ đạo là “trả lại nguyên trạng các dòng sông” của Hà Nội, thì phải có giải pháp căn cơ.

Hà Nội đang rốt ráo triển khai nạo vét sông Tô Lịch để đón nguồn nước bổ cập từ sông Hồng. Ảnh: Kiên Trung.
“Điều đầu tiên chúng tôi nghĩ đến, là phải làm các đập dâng trên hệ thống sông Hồng. Trong Quy hoạch phòng chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, chúng tôi đưa vào 2 đập dâng. Trong đó, một đập dâng trên sông Hồng ở khu vực cống Xuân Quan và một đập dâng trên sông Đuống ở cống Long Tửu. Và nếu xây dựng thêm một đập dâng trên sông Đà ở khu vực cầu Trung Hà (huyện Ba Vì, Hà Nội) thì sẽ giải quyết được cơ bản vấn đề nguồn nước tự chảy cho cả sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tô Lịch, sông Tích, sông Bắc Hưng Hải. Chỉ khi có nguồn nước tự chảy thì mới không bị lắng đọng phù sa và các dòng sông mới trở lại như xưa.
Về bài toán kinh phí đầu tư xây dựng hệ thống đập dâng, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, có rất nhiều cách để huy động, trong đó có cả hình thức đầu tư PPP, doanh nghiệp có thể bỏ tiền xây đập, sau đó Nhà nước đổi đất hai bên sông hoặc kết hợp các dự án khác.
Đương nhiên, đó mới chỉ là nguồn nước đầu vào, Hà Nội vẫn phải tiếp tục triển khai các giải pháp thu gom để nước thải không đổ ra các dòng sông này nữa.
Trước câu hỏi Hà Nội bổ cập lưu lượng nước bao nhiêu cho sông Tô Lịch là phù hợp? Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nói: “Với Hà Nội hiện nay, việc bổ cập lưu lượng nước bao nhiêu m3/s là câu chuyện lớn, vì nó ảnh hưởng đến dòng chảy và quy mô đầu tư. Nhưng như trên tôi đã nhấn mạnh, cái này để giải quyết tình thế thôi.
Cũng như Trạm bơm dã chiến Xuân Quan, để giải quyết tình thế nên chỉ làm trạm bơm 16m3/s, nếu để đẩy được toàn bộ nước sông Bắc Hưng Hải đi thì phải làm trạm bơm công suất mấy chục m3/s nữa. Và, đã là trạm bơm dã chiến thì không thể làm quy mô lớn đến mấy chục m3/s được.
Bởi vậy tôi cho rằng, Hà Nội làm trạm bơm dã chiến 3-5 m3/s để bổ cập nước cho sông Tô Lịch cũng là chấp nhận được, còn nếu làm đầy đủ để đẩy được nguồn nước như một dòng sông tự nhiên thì có thể phải đầu tư trạm bơm lên tới 16-20m3/s”.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, có hai cách làm hồ lắng phù sa trước khi đưa nước sông Hồng vào sông Tô Lịch.
Cách thứ nhất là dẫn nước vào một số hồ trồng sen trên địa bàn quận Tây Hồ như Hà Nội đang trình. Cách thứ hai là bơm thẳng vào sông Tô Lịch và làm một đập ngăn sông ở ngay khu vực Hoàng Quốc Việt với vai trò như một hồ lắng, và chỉ cần nạo vét phù sa ở ô đó thôi, vì dự án chỉ cần bổ cập lưu lượng 3m3/s, để giải quyết tình thế thì hoàn toàn có thể chấp nhận được.
Dự án “hồi sinh” sông Tích chưa đạt kỳ vọng?
Theo kết quả nghiên cứu rà soát được 3 cơ quan là Viện Thủy công (thuộc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam), Hội Đập lớn và Phát triển nguồn nước Việt Nam (VNCOLD) và Hội Cơ học Hà Nội thực hiện, vùng phía Tây Thủ đô Hà Nội có 4 con sông chính là sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ và sông Tô Lịch. Từ năm 2002 không có dòng chảy, nước tù đọng, bốc mùi hôi thối nồng nặc khó chịu, gây ô nhiễm môi trường, làm ô nhiễm cả nguồn nước ngầm, gây bức xúc cho người dân sống bên cạnh và du khách qua lại.
Đặc biệt, nhiều người dân vẫn phải dùng nước bẩn này để tưới cho lúa, rau màu, cây trồng và đưa vào ao hồ để nuôi trồng thủy sản… Thành phố Hà Nội đã có quy hoạch và triển khai nhiều giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, có giải pháp đã hoàn thành nhưng hiệu quả không đạt được như mong muốn.

Cống Thuần Mỹ ở xã Thuần Mỹ (Ba Vì) nằm trên bờ hữu sông Đà, lấy nước vào sông Tích. Ảnh: Minh Phúc.
Cụ thể, sông Tích (dài 110km), bắt nguồn từ vùng núi Ba Vì, chảy qua các huyện Ba Vì, Sơn Tây, Phúc Thọ, Thạch Thất, Quốc Oai và hợp lưu với sông Bùi (từ Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình chảy về) tại ngã ba Tân Trượng, xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, sau đó nhập vào sông Đáy tại ngã ba Ba Thá, huyện Chương Mỹ.
Nhiều năm qua, do việc xây dựng một số hồ chứa cùng diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp và tác động của biến đổi khí hậu, nguồn sinh thủy của sông Tích trở nên cạn kiệt, đặc biệt vào mùa khô. Nhiều đoạn đã trở thành sông “chết”, ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của người dân và phát triển kinh tế – xã hội của 8 huyện phía Tây, Tây Nam Hà Nội.
Năm 2010, dự án tiếp nước, khôi phục sông Tích được Thành phố Hà Nội phê duyệt với tổng mức đầu tư 6.914 tỷ đồng. Mục tiêu là lấy nước từ sông Đà với lưu lượng 60m3/s tiếp nguồn cho sông Tích, tưới 16.000ha, cấp nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo môi trường sinh thái, đảm bảo tiêu thoát nước phòng, chống lũ cho lưu vực, xây dựng đường giao thông hai bên bờ sông, tạo điều kiện thuận lợi khai thác tiềm năng quỹ đất dọc hai bờ sông Tích phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của Thủ đô Hà Nội.
Giai đoạn 1 của dự án được xây dựng từ 2011, đến 2023 cơ bản hoàn thành. Nhưng theo các chuyên gia của Viện Thủy công, VNCOLD, nhiều năm mực nước hồ thủy điện Hòa Bình bị thiếu hụt, điển hình như năm 2019 thiếu 1/3 dung tích thiết kế, Nhà máy nước sông Đà phải lắp đặt trạm bơm dã chiến để bơm cấp nước xử lý.
Mùa kiệt năm 2023, mực nước sông Đà tại cống Thuần Mỹ (huyện Ba Vì) không đạt +5m, trong khi cao trình đáy cống thiết kế lấy nước mùa kiệt là +5,5m, mực nước thiết kế tại cống là +8,4m. Nếu không có giải pháp dâng mực nước vào mùa kiệt, cống Thuần Mỹ sẽ không chủ động được nguồn theo thời vụ và nhiều thời điểm cũng “đắp chiếu” như một số cống lấy nước sông Hồng vào sông Đáy, sông Nhuệ.
“Mổ xẻ” các phương án hồi sinh sông Nhuệ, sông Đáy của Hà Nội
Đối với sông Đáy, công trình cống Cẩm Đình, cống Hiệp Thuận và tuyến kênh dẫn Cẩm Đình – Hiệp Thuận dài 12km (với mục tiêu lấy nước tự chảy từ sông Hồng, cấp cho sông Đáy với lưu lượng mùa kiệt là 36,24m3/s, về mùa lũ là 70m3/s, phục vụ sản xuất, sinh hoạt, cải tạo môi trường sinh thái và khôi phục lại dòng chảy trên sông để vận tải thủy) được bàn giao từ năm 2008, nhưng từ đó đến nay, mực nước sông Hồng tại cống Cẩm Đình thấp hơn so với cao trình đáy cống (+3m) nên không có nước chảy vào, công trình vẫn đang phải “đắp chiếu”.

Dòng nước sông Đáy ô nhiễm có màu đen, nhìn từ trên cao. Ảnh: Minh Phúc.
Về quy hoạch, theo Quyết định số 4673/QĐ-UBND ngày 18/10/2012, UBND thành phố Hà Nội có giải pháp cải tạo, nâng cấp đấu nối 2 tuyến kênh trạm bơm tiêu Săn và kênh trạm bơm tiêu Thụy Đức để chuyển nước từ sông Tích sang bổ sung vào sông Đáy với lưu lượng 20m3/s. Nhưng, theo phân tích của các chuyên gia Viện Thủy công và VNCOLD, “thực tế sẽ không hiệu quả”, vì từ cống Lương Phú về đến trạm bơm Săn và 2 tuyến kênh trạm bơm Săn, Thụy Đức ra sông Đáy tổng chiều dài gần 70km. Sông Tích có độ dốc lớn, dòng chảy bị gấp khúc, tổn thất nhiều với mực nước thiết kế tại cống Lương Phú +8,3m, sẽ không đủ nước tự chảy ra sông Đáy được. Thế nên, quy hoạch này đã có hơn 12 năm nhưng vẫn chỉ… nằm trên giấy.
Đối với sông Nhuệ, nhiều năm nay, việc lấy nước từ sông Hồng vào sông Nhuệ qua cống Liên Mạc rất khó khăn, nhất là trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm trước đến các tháng 1, 2, 3 của năm sau. Nguyên nhân là do cống Liên Mạc được thiết kế lấy nước sông Hồng vào sông Nhuệ ở cao trình 3,77m, trong khi mực nước cao nhất tại các đợt điều tiết nước từ hồ thủy điện, mực nước sông Hồng, đoạn cống Liên Mạc thấp hơn khả năng lấy nước của cống.
Kết quả quan trắc được Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) công bố hồi tháng 8/2020, sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội có 7 điểm cho chỉ số chất lượng nước (WQI) ở mức 10-25, tức ô nhiễm nặng đến rất nặng. Hai điểm cầu Tó (Thanh Trì) và Cự Đà (Tả Thanh Oai) ô nhiễm nặng nhất với chỉ số là 10.
Để làm “sống lại” sông Nhuệ, dự án xây dựng trạm bơm Liên Mạc với nhiệm vụ tưới, tiêu kết hợp, công suất 170m3/s để đưa nước sông Hồng và sông Nhuệ, nhằm pha loãng nước bị ô nhiễm, tạo dòng chảy thau rửa sông Nhuệ, giảm ô nhiễm môi trường đã hình thành.
Giai đoạn 1 của dự án có công suất 70m3/s, đã được UBND thành phố Hà Nội phê duyệt tại Quyết định số 1902/QĐ-UBND ngày 28/2/2013, tổng mức đầu tư của dự án này là 4.242 tỷ đồng, trong đó chi phí xây dựng là 1.716 tỷ đồng, chi phí giải phóng mặt bằng là 855 tỷ đồng…
Tại thời điểm phê duyệt lần đầu, tiến độ dự án thực hiện trong giai đoạn 2013 – 2015, nhưng đến nay hơn 10 năm vẫn chưa được khởi công xây dựng. Theo phân tích của các chuyên gia thủy lợi thuộc Viện Thủy công và VNCOLD, có nhiều nguyên nhân, trong đó có giải pháp kỹ thuật và hiệu quả sau đầu tư. Nếu bơm nước tạo dòng chảy cho sông Nhuệ, mỗi ngày đêm sẽ tiêu tốn khoảng 1 tỷ đồng tiền điện. Chưa tính chi phí xây dựng, chi phí quản lý vận hành và các chi phí khác, đầu tư lớn nhưng chưa chắc hiệu quả đã cao.
Còn đối với sông Tô Lịch, nguồn cấp cho sông Tô Lịch để tạo ra dòng chảy là Hồ Tây, nhưng Hồ Tây chỉ là kho chứa nước mưa, khi không có mưa, hồ phải trữ nước theo cao trình thiết kế nên không có nguồn cấp thường xuyên cho sông Tô Lịch.
Dự án xử lý nước thải Yên Xá, công suất 270m3/ngày đêm sẽ thu gom toàn bộ nước thải ra sông Tô Lịch và sông Lừ vào hệ thống đường ống đưa về trạm xử lý, sau đó tiêu ra sông Nhuệ. Khi dự án hoàn thành, không còn nước thải ra sông, lúc đó sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét không có nguồn cấp sẽ trơ đáy, trở thành sông “chết”.
Theo Quyết định số 4673/QĐ-UBND ngày 18/10/2012 của UBND thành phố Hà Nội, trạm bơm Liên Mạc sẽ cấp 5m3/s về sông Tô Lịch. Nhưng mực nước bể xả trạm bơm Liên Mạc khi quay đầu tưới thấp, không tự chảy về sông Tô Lịch được, vì vậy, phải bơm 2 cấp và phải đầu tư thêm nhiều tuyến kênh dẫn dài hơn 4km từ sông Nhuệ sang sông Tô Lịch chi phí lớn và chưa có nguồn bổ sung nước cho Hồ Tây.
Có thể thấy, Hà Nội đã đưa ra nhiều phương án/dự án/quy hoạch để hồi sinh các dòng sông nội đô phía Tây, tuy nhiên, các dự án đã triển khai hiện vẫn chưa đạt hiệu quả như mong đợi và một số quy hoạch và phương án còn nhiều dấu hỏi về hiệu quả đầu tư.
Phục hồi sông Tô Lịch cần tầm nhìn tổng thể và dài hạn
Sông Tô Lịch, một trong những dòng sông lịch sử của Hà Nội, đã trải qua nhiều năm ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân. Việc phục hồi sông Tô Lịch đòi hỏi một tầm nhìn tổng thể và dài hạn, kết hợp các giải pháp kỹ thuật và quản lý hiệu quả.
Thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng chia sẻ rất nhiều về việc UBND thành phố Hà Nội xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ về chủ trương đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp bổ cập nước từ sông Hồng vào sông Tô Lịch. Người dân Thủ đô mong chờ sự hồi sinh, phục hồi được dòng chảy, môi trường cho dòng sông Tô Lịch đang bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm.

Phục hồi sông Tô Lịch: Cần một tầm nhìn tổng thể và dài hạn.
Sông Tô Lịch, một trong những dòng sông lịch sử của Hà Nội, đã trải qua nhiều năm ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân. Việc phục hồi sông Tô Lịch đòi hỏi một tầm nhìn tổng thể và dài hạn, kết hợp các giải pháp kỹ thuật và quản lý hiệu quả.
CÁC QUY HOẠCH LIÊN QUAN VÀ YÊU CẦU
– Quyết định số 725/QĐ-TTg ngày 10/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch thoát nước Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 trong đó sông Tô Lịch cải tạo, xây dựng tuyến mương nối với sông Nhuệ từ khu vực trạm bơm Cổ Nhuế đến đầu sông Tô Lịch với lưu lượng 5m3/s.
– Quyết định số 1569/QĐ-TTg ngày 12/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch Thủ đô Hà Nội thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
– Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 27/12/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
– Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
– Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 08/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
– Quyết định số 847/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
– Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu xác định: “Tạo chuyển biến rõ nét trong công tác bảo vệ môi trường, hướng tới xây dựng Thủ đô xanh, sạch, đẹp, phát triển bền vững; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng không khí; xử lý cơ bản ô nhiễm môi trường nước các hệ thống sông, hồ; hoàn thành cải tạo môi trường sông Nhuệ – Sông Đáy, sông Tô Lịch”.
– Chương trình số 05-CTr/TU ngày 17/3/2021 của Thành ủy Hà Nội về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn thành phố Hà Nội, giai đoạn 2021 – 2025”. Về nhiệm vụ quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường: “Từng bước làm sống lại các sông: Nhuệ, Đáy, Tô Lịch, Tích, Kim Ngưu, Lừ, Sét…”.
VỀ QUY ĐỊNH LIÊN QUAN TÀI NGUYÊN NƯỚC
Việc duy trì dòng chảy tối thiểu trên sông phải đảm bảo theo quy định tại Điều 24 Luật Tài nguyên nước;
– Hoạt động của dự án cần tuân thủ các quy định về phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước tại Điều 34 Luật Tài nguyên nước;
– Ngoài ra, cần tuân thủ theo các quy định của pháp luật về tài nguyên nước. Cụ thể: Quy định về bảo đảm lưu thông của dòng chảy tại Điều 25; Quy định về phòng, chống hạn hán, thiếu nước, lũ, lụt, ngập úng nhân tạo tại Điều 63; Quy định về phòng, chống sạt lở lòng, bờ, bãi sông tại Điều 66 của Luật Tài nguyên nước; Quy định về hành lang bảo vệ nguồn nước và quy định về bảo vệ lòng, bờ, bãi sông tại Nghị định số 53/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.
NHỮNG PHƯƠNG ÁN ĐỀ XUẤT PHỤC HỒI SÔNG TÔ LỊCH
Phương án đề xuất của Hà Nội
UBND thành phố Hà Nội có văn bản số 4287/UBND-ĐT ngày 19/12/2024 gửi Thủ tướng Chính phủ về chủ trương đầu tư xây dựng công trình khẩn cấp bổ cập nước từ sông Hồng vào sông Tô Lịch nhằm cải thiện môi trường.
Mục tiêu đầu tư: Bổ cập nước cho sông Tô Lịch từ nguồn sông Hồng, thay thế nguồn nước thải đã được thu gom về Nhà máy nước thải Yên Xá, đảm bảo tạo dòng chảy, cải thiện môi trường, tạo mực nước trên sông, thau rửa lòng sông, đảm bảo cảnh quan, vệ sinh môi trường; chuẩn bị nguồn để bổ cập nước cho hồ Tây sau khi quận Tây Hồ hoàn thành Đề án quy hoạch, quản lý, bảo tồn, khai thác phát huy giá trị của hồ Tây và triển khai thực hiện.
Quy mô đầu tư:
– Xây dựng cụm công trình trạm bơm khai thác nước sông Hồng, vị trí tại bãi sông Hồng với công suất trạm 3-5m3/s gồm trạm bơm, bể hút, trạm biến áp, nhà quản lý vận hành.
– Tuyến ống dẫn nước từ trạm bơm vào qua đê bờ hữu sông Hồng (2 tuyến D1200mm).
– Xây dựng đường ống D1200mm dẫn nước từ đê hữu Hồng đến sông Tô Lịch dài khoảng 5.500m. Trên tuyến có bố trí điểm chờ để đấu nối bổ cập nước cho hồ Tây.
– Xây dựng 3 đập dâng trên sông Tô Lịch để giữ nước, tạo dòng chảy, khai thác cảnh quan hai bên bờ sông Tô Lịch…

Phương án của Hà Nội theo văn bản số 4287/UBND-ĐT ngày 19/12/2024
Phương án đề xuất của Hội Cơ học Hà Nội
Giải pháp của Hội Cơ học là xây dựng đập dâng Thuần Mỹ, đầu nước thuận lợi lấy nước sông Đà qua cống Lương Phú. Cống này nằm trên bờ hữu sông Đà tại huyện Ba Vì, có khả năng lấy khoảng 100 m3/s nước từ sông Đà vào sông Tích, từ đó chảy tự nhiên về Sơn Tây. Nước sông Tích về Sơn Tây có dòng chảy hở tự do không áp nên tổn thất ít, sử dụng cống điều tiết để điều chỉnh mực nước ở Sơn Tây khoảng +10 m.
Tại cống điều tiết Sơn Tây chuyển 40 m3/s theo sông Tích về sông Bùi, còn 60 m3/s theo đường trục quy hoạch Tây Thăng Long về đến sông Đáy xả 30m3/s, về đến sông Nhuệ xả 25 m3/s, còn lại 5 m3/s về sông Tô Lịch và Hồ Tây.

Sơ hoạ phương án đề xuất của Hội Cơ học Hà Nội.
Phương án của Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về động lực học sông biển
Mục tiêu đầu tư: Phục hồi và kết nối sông Tô Lịch, Hồ Tây với sông Hồng nhằm đảm bảo cung cấp nguồn nước sạch ổn định, tăng cường lưu lượng duy trì dòng chảy môi trường, đường thủy nội địa, hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái ven sông, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống cho cư dân đô thị thành phố Hà Nội.

Phương án đề xuất của Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về động lực học sông biển, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam.
Quy mô đầu tư:
– Xây dựng cụm công trình bao gồm: cải tạo hồ lắng tự nhiên 10ha ngoài bãi sông Hồng, kênh dẫn, trạm bơm khai thác nước sông Hồng, vị trí tại bãi sông Hồng với công suất trạm 18m3/s gồm trạm bơm, bể hút, trạm biến áp, nhà quản lý vận hành.
– Tuyến kênh dẫn nước không áp từ trạm bơm vào qua đê bờ hữu sông Hồng vào hồ Tây, kích thước kênh bxh=3x3m.
– Xây dựng kênh dẫn hở B=10m ven hồ Tây đến cửa A vào sông Tô Lịch, dài 4km. Giải pháp công trình bờ ngăn thành mỏng bằng cừ ván BT dự ứng lực SW400, kết hợp đường đi bộ, cảnh quan theo dọc tuyến kênh và các công trình bổ cập phân tán nước cho Hồ Tây dọc theo tuyến.
– Xây dựng 01 đập dâng trên sông Tô Lịch tại hạ lưu cầu Quang để dâng mực nước, tạo dòng chảy, khai thác cảnh quan hai bên bờ sông Tô Lịch, giao thông thủy; chống ngập sông Tô Lịch khi hỗ trợ tiêu nước sông Nhuệ (qua trạm bơm Yên Sở)…
PHÂN TÍCH – ĐÁNH GIÁ
Phương án 1 của Hà Nội
Với mục tiêu bổ cập nước cho sông Tô Lịch từ nguồn sông Hồng, thay thế nguồn nước thải đã được thu gom về Nhà máy nước thải Yên Xá với công suất trạm bơm 3-5 m3/s < 15,6 m3/s (5×3,125m3/s = 15,6m3/s, nước thải sau xử lý nhà máy XLNT Yên Xá lưu lượng trung bình về mùa khô 270.000 m3/ngày xả vào sông Tô Lịch tại vị trí hạ lưu Cầu Lủ), vận tốc trung bình 0,075 m/s < 0,3m/s là quá nhỏ để tạo dòng chảy trên sông (Theo TCVN 7957:2023, sông phải có dòng chảy liên tục, vận tốc không dưới 0,3 m/s. Lưu lượng dòng chảy sông tham gia pha loãng phải lớn hơn 5 lần so với lưu lượng nước thải). Chưa đáp ứng mục tiêu phục hồi dòng chảy sông. Chỉ đáp ứng mục tiêu ngắn hạn, bổ cập nước cho sông Tô Lịch từ nguồn sông Hồng, thay thế nguồn nước thải đã được thu gom về Nhà máy nước thải Yên Xá. Đồng thời về lưu lượng chưa phù hợp với QH 725 sẽ không đảm bảo yêu cầu về: hình thành dòng chảy; cải thiện chất lượng nước.
Về yêu cầu theo Quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt. Cấp lưu lượng Q=3m3/s, không cải thiện được chất lượng nước, theo QCVN 08:2023. Chất lượng nước rất xấu có thể gây ảnh hưởng lớn tới cá và các thủy sinh.
Khả năng mở rộng quy mô theo yêu cầu của quy hoạch và phát triển trong tương lai: Lưu lượng “bổ cập” 3m3/s. Rất khó khăn khi tăng 5÷6 lần quy mô về lưu lượng để đảm bảo phục hồi sông Tô Lịch theo qui hoạch và phát triển;
Về công trình đầu mối lấy nước: Lấy nước trực tiếp bằng trạm bơm trên bờ sông Hồng, mang bùn cát và phù sa sông Hồng vào sông Tô Lịch. Mặt bằng bố trí lắng cát quá nhỏ, gần như không có khả năng xử lý lắng đọng phù sa, bùn cát trực tiếp vào sông Tô Lịch. Trạm bơm và cửa lấy nước được đặt trong bãi bồi do hệ thống kè Phú Gia tạo ra.
Điều kiện và thời gian thi công, kinh phí đầu tư: Khó khăn thi công trên trục đường giao thông lớn Võ Chí Công. Thi công bằng công nghệ mới (khoan kích ngầm, khoan kéo ống) chưa có định mức chi phí và phụ thuộc vào năng lực thi công của một số ít nhà thầu. Không đáp ứng được tiến độ khi gặp sự cố thi công. Kinh phí đầu tư lớn hơn, khó xác định do không có định mức.
Bảo dưỡng, vận hành: Khó bảo dưỡng. Hệ thống đường ống áp lực dài 5,5 km có thể gặp các rủi ro như vỡ, tắc nghẽn trong quá trình vận hành, đòi hỏi chi phí bảo trì và giám sát liên tục.
Một số hạn chế khác như:
– Nguy cơ sạt lở và bồi lắng:Việc lấy nước trực tiếp từ sông Hồng có thể gây ra sạt lở và bồi lắng tại khu vực cửa lấy nước, ảnh hưởng đến sự ổn định của công trình.
– Ô nhiễm thứ cấp:Nước từ sông Hồng có hàm lượng phù sa cao, nếu không được xử lý sơ bộ, có thể gây lắng đọng phù sa và rác thải tại các đập dâng trên sông Tô Lịch, dẫn đến ô nhiễm thứ cấp.
Theo Quyết định số 847/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đập dâng Xuân Quan sẽ được xây dựng trên sông Hồng, đập dâng Long Tửu sẽ được xây dựng trên sông Đuống để dâng mực nước sông Hồng đoạn qua thành phố Hà Nội, do đó phương án của thành phố Hà Nội cần được thiết kế để đảm bảo khi có các đập dâng nêu trên thì có thể dẫn nước tự chảy và tuyến ống chìm vẫn đảm bảo khả năng dẫn nước.

Hình ảnh sông Tô Lịch từng bị ôm nhiễm nặng nề từ rác thải. Ảnh: Viết Niệm
Về tổng thể cho thấy, phương án đề xuất của UBND thành phố Hà Nội nhằm bổ cập nước từ sông Hồng vào sông Tô Lịch có ưu điểm như thiết kế tuyến đường thẳng. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng về các khía cạnh khoa học, kỹ thuật và kinh tế. Việc triển khai cần được thực hiện đồng bộ với các giải pháp khác như thu gom và xử lý nước thải, kiểm soát nước mưa và cải tạo cảnh quan hai bên sông.
Phương án này cũng tồn tại những hạn chế như chưa giải quyết triệt để nguồn gốc ô nhiễm, nguy cơ lắng đọng phù sa và rác thải, cũng như ảnh hưởng đến các công trình hạ tầng hiện có. Đồng thời, việc “bổ cập” 3-5 m3/s mới dừng lại ở giải pháp tình thế, trước mắt, chưa giải quyết được một cách tổng thể, dài hạn để phục hồi dòng sông, tạo cảnh quan ven sông.
Phương án 2 của Hội Cơ học
Ưu điểm: Giải pháp này tận dụng địa hình dốc tự nhiên từ Ba Vì về Hà Nội, cho phép nước chảy tự nhiên mà không cần sử dụng máy bơm, giúp giảm chi phí vận hành. Nguồn nước từ sông Đà được đánh giá là sạch và ổn định, do đã được lắng lọc qua các hồ chứa như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, phù hợp cho việc cải thiện chất lượng nước sông Tô Lịch.
Một số hạn chế của phương án 2:
Chưa đủ cơ sở pháp lý để xây dựng đập dâng Thuần Mỹ trên sông Đà, ngoài ra việc xây dựng đập dâng Thuần Mỹ có thể tác động đến thoát lũ, các yêu cầu lấy nước, xói lở, biến động lòng dẫn ở hạ du, ảnh hưởng đến cột nước phát điện của thủy điện Hòa Bình… Thực tế hiện nay cho thấy, thành phố Hà Nội đang sa lầy với dự án cải tạo sông Tích từ Lương Phú (thời gian thi công kéo dài, chưa biết bao giờ về đích, cống đầu mối Lương Phú đã hoàn thành nhưng không lấy được nước…), do đó việc bổ sung dự án tiếp nước theo phương án 2 sẽ làm vấn đề phức tạp hơn.
Lưu ý là hiện nay cống Lương Phú không lấy được nước nhưng nếu xây dựng đập dâng Thuần Mỹ thì có thể lấy được (đây là cơ sở và mục đích của việc đề xuất xây dựng đập dâng Thuần Mỹ). Tuy nhiên đúng như trên phân tích, hiện nay đập này chưa có trong quy hoạch, chưa được nghiên cứu cụ thể, chi tiết về hiệu quả và tác động.
Thông số của cống Lương Phú với mực nước thiết kế tưới là +8,41m, cao trình ngưỡng cống lấy nước mùa lũ cũng chỉ tới +10,0m, do vậy khó duy trì mực nước tại Sơn Tây ở mức +12m (nhất là trong mùa kiệt). Lưu lượng thiết kế lấy nước tưới qua cống là 60 m3/s, như vậy mùa kiệt lấy được đến 100 m3/s phụ thuộc nhiều vào việc giữ ổn định mực nước cống Lương Phú trên +8,41m của đập dâng Thuần Mỹ.
Tuyến kênh dẫn đi qua nhiều địa bàn phức tạp với chiều dài khoảng 70 km, tổn thất cột nước dọc đường, các chi phí về đền bù giải phóng mặt bằng lớn; sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật thi công khác nhau trên tuyến.
– Rủi ro liên quan đến chất lượng nước nguồn cung: Việc chuyển nước từ sông Đà cần đảm bảo rằng nguồn nước này luôn đạt tiêu chuẩn về chất lượng. Nếu có sự thay đổi về môi trường hoặc rủi ro về ô nhiễm phát sinh ở sông Đà, toàn bộ hệ thống dẫn nước có thể trở thành nguồn lây lan ô nhiễm, làm suy giảm chất lượng nước tại sông Tô Lịch.
Lưu ý vì thực tế nước sông Đà “sạch” hơn rất nhiều đoạn sông Hồng bên dưới, hơn nữa đoạn này ổn định với nguồn nước sau thủy điện và không chịu ảnh hưởng triều (triều chỉ ảnh hưởng đến gần Sơn Tây).
– Rủi ro về biến hình lòng dẫn, ảnh hưởng dòng chảy mùa lũ, kiệt hạ du: Việc xây dựng đập trên sông tại vị trí trước ngã ba sông Hồng – sông Đà có thể ảnh hưởng rất lớn đến lòng dẫn ở hạ du vốn đang biến động mạnh, hạ thấp thời gian qua. Đồng thời ảnh hưởng đến dòng chảy hạ du, gây khó khăn trong việc lấy nước vào sông Tích.
Cần nghiên cứu thêm, nếu 2 đập dâng Xuân Quan và Long Tửu (theo Quyết định 847/QĐ-TTg) được xây dựng ở mức cao (+4,0 đến +4,5m) có thể lấy nước ổn định vào sông Đáy qua cống Cẩm Đình hoặc ở mức thấp hơn (+2,5 đến +3,0m) cũng vẫn đảm bảo lấy đủ nước theo thiết kế vào sông Nhuệ qua cống Liên Mạc (đây là các phương án được tính toán tại Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Hội đồng thẩm định thông qua và đang chuẩn bị trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt).
– Giải pháp mang tính “bề mặt” nếu không xử lý triệt để nguồn gốc ô nhiễm: Mặc dù việc cung cấp nước sạch có thể cải thiện tình trạng hiện tại của sông Tô Lịch, nhưng nếu các nguồn ô nhiễm (như xả thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt) không được kiểm soát triệt để, tình trạng ô nhiễm sẽ không được giải quyết cốt yếu và có thể tái diễn sau một thời gian nào đó.
Thách thức về mặt kỹ thuật và quản lý: Xây dựng và duy trì hệ thống dẫn nước giữa hai con sông có thể gặp phải nhiều trở ngại kỹ thuật, từ việc thiết kế đường ống/hệ thống dẫn nước cho đến kiểm soát dòng chảy và điều tiết lượng nước phù hợp. Đồng thời, cần có kế hoạch quản lý và giám sát chặt chẽ nhằm đảm bảo quá trình vận hành không gây ra các tác động phụ ngoài ý muốn đối với cả hai hệ thống sông.
– Chi phí đầu tư ban đầu lớn: Mặc dù có tiềm năng giảm chi phí xử lý ô nhiễm sau này, nhưng quá trình xây dựng, lắp đặt và duy trì hệ thống dẫn nước có thể đòi hỏi một khoản đầu tư ban đầu không nhỏ, đặc biệt trong bối cảnh hạ tầng đô thị hiện nay đã phức tạp và đòi hỏi những cải tiến tiên tiến.
– Thời gian thực hiện: Thời gian triển khai dài hơn; cần phối hợp với các địa phương liên quan; có thể gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng và quản lý nguồn nước.
Phương án 3 của Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia
Về mục tiêu, quy mô:
– Tổng thể, dài hạn, đa ngành, gia tăng được giá trị chức năng nguồn nước. Tăng cường duy trì dòng chảy môi trường khoảng 18m3/s, v = 0,3m/s;
– Đảm bảo đường thủy nội địa quy mô cấp V (h>2m; B>15m);
– Hỗ trợ du lịch sinh thái, phát triển cảnh quan; mực nước duy trì trên sông thấp hơn (+3,3m – +3,8m).
Đảm bảo các điều kiện theo TCVN 7957:2023: Vận tốc dòng chảy tối thiểu 0,348m/s > 0,3m/s; Lưu lượng dòng chảy sông Qs=(18m3/s); Theo nguyên tắc phục hồi dòng chảy “có dòng chảy, sông sẽ được sạch” .
Về yêu cầu theo Quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT: Cấp lưu lượng Q=18m3/s, chất lượng nước có thể đạt được Mức C÷B theo QCVN 08:2023.
Về khả năng mở rộng quy mô theo yêu cầu của quy hoạch và phát triển trong tương lai: Lưu lượng dẫn có thể đạt tới 18m3/s. Quy mô công trình đoạn sông phục hồi cơ bản đã đảm bảo lâu dài. Có khả năng dẫn tự chảy khi xây dựng hai đập dâng trên sông Hồng theo Quyết định số 833/QĐ-TTg ngày 15/8/2024 về điều chỉnh kế hoạch đầu tư trung hạn giai đoạn 2021÷2025.
Về công trình đầu mối lấy nước: Lấy nước bằng hồ lắng rộng 10ha và kênh dẫn trên bãi sông Hồng, nên công trình luôn hoạt động ổn định và bùn cát được lắng đọng trước khi cấp vào sông Tô Lịch.
Về điều kiện và thời gian thi công, kinh phí đầu tư: Thuận lợi khi phần lớn tuyến qua vùng bãi sông Hồng và ven Hồ Tây. Chỉ gặp khó khăn thi công trong các ngõ (đường nhỏ) mặt bằng chật hẹp; Thi công đơn giản bằng các công nghệ truyền thống. Thời gian thi công nhanh hơn, đáp ứng được tiến độ trước tháng 9/2025. Kinh phí đầu tư nhỏ hơn, dễ dàng xác định do có định mức.
Dễ bảo dưỡng, vận hành so với các phương án khác.
Về tổng thể rõ ràng phương án 3 giải quyết được bài toán lâu dài, tổng thể hơn so với các phương án đã đề xuất.
Ưu điểm:
– Duy trì dòng chảy liên tục:Phương án này đảm bảo sông Tô Lịch có dòng chảy ổn định với lưu lượng bổ cập tối đa 18 m³/s, giúp phục hồi hệ sinh thái và cải thiện chất lượng nước.
– Tạo cảnh quan và giao thông thủy:Việc kết nối với hồ Tây và sông Hồng không chỉ cải thiện môi trường mà còn phát triển cảnh quan và giao thông thủy nội địa, đóng góp vào phát triển kinh tế – xã hội.
– Giải pháp tổng thể và dài hạn:Phương án này mang tính bền vững, giải quyết vấn đề ô nhiễm và phục hồi sông Tô Lịch một cách toàn diện.
Nhược điểm:
– Với đề xuất bổ cập cho sông Tô Lịch với lưu lượng 18m3/s bằng giải pháp động lực, duy trì một cách liên tục cần được xem xét kỹ hơn. Vì đây là giải pháp rất tốn kém về mặt năng lượng. Cân nhắc việc có thể chuyển sang lấy nước tự chảy trong trường hợp xây dựng các đập dâng Xuân Quan và Long Tửu.
– Việc cải tạo xây dựng hồ lắng tự nhiên rộng 10 ha ven sông Hồng cầm kiểm chứng tính khả thi khi vận hành trong mùa lũ.
– Cụm công trình hồ lắng, trạm bơm ngoài bãi sông cũng cần nghiên cứu kỹ các quy định về hàng lang thoát lũ của sông Hồng.
– Việc xây dựng kênh hở dẫn nước chạy dọc ven bờ hồ Tây là vấn đề phức tạp cả về kỹ thuật và ảnh hưởng đến cảnh quan của hồ Tây. Ngoài ra, nguồn nước của hồ Tây hiện tại chủ yếu là nước mưa và nước thải, bị tù đọng, nguồn nước từ sông Hồng, sau khi đã được lắng phù sa nên được xả thẳng vào hồ Tây để cải thiện chất lượng nước. Do đó, cần xem xét phương án không xây dựng kênh hở dẫn nước chạy dọc theo hồ Tây.
– Cần rà soát và điều chỉnh hướng tuyến của tuyến kênh dẫn nước từ cửa xả B của hồ Tây để đảm bảo phù hợp với quy hoạch xây dựng khu Tây Hồ Tây.
LỜI KẾT
Tất cả 3 phương án nêu trên, điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo tách nguồn thải khỏi sông Tô Lịch.

Phối cảnh đề xuất cải tạo sông Tô Lịch thành công viên lịch sử – văn hóa – tâm linh của JVE.
Việc tiếp nước để làm sống lại sông Tô Lịch là cần thiết và cấp bách nhưng cả 3 phương án được đề xuất của UBND thành phố Hà Nội, Hội Cơ học và Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia đều mới chỉ giải quyết vấn đề một cách cục bộ mà chưa có tầm nhìn tổng thể về nguồn nước cho thành phố Hà Nội nói riêng và các tỉnh lân cận nói chung. Khi sông Tô Lịch được tiếp nước mà các sông khác như sông Đáy, sông Nhuệ, Bắc Hưng Hải, Ngũ Huyện Khê vẫn là các con sông chết thì môi trường nước của thành phố Hà Nội vẫn không được cải thiện.
Do đó, cần phải có giải pháp tổng thể để làm sống lại các con sông của thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận. Quy hoạch phòng, chống thiên tai và thủy lợi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 847/QĐ-TTg ngày 14/7/2023 trong đó đã xác định ưu tiên đầu tư 2 đập dâng Xuân Quan trên sông Hồng, đập dâng Long Tửu trên sông Đuống để dâng mực nước sông Hồng đoạn qua thành phố Hà Nội đảm bảo cho sông Nhuệ, sông Bắc Hưng Hải, Ngũ Huyện Khê có thể lấy nước bằng hình thức tự chảy. Ngoài nhiệm vụ dâng nước, các công trình nêu trên còn mang lại các giá trị về kinh tế (du lịch, dịch vụ, vui chơi giải trí), xã hội, môi trường rất lớn cho thành phố Hà Nội.
Do đó, thành phố Hà Nội nên mạnh dạn đề xuất với Thủ tướng Chính phủ giao cơ quan có thẩm quyền triển khai ngay việc lập dự án đầu tư các đập dâng nêu trên. Song song với đó, giải pháp về việc bổ cập nước cho sông Tô Lịch cần được thiết kế để đảm bảo phủ hợp trong điều kiện có các đập dâng Xuân Quan và Long Tửu.
Đề xuất dự án 16.200 tỷ cấp nước tự chảy cho 4 dòng sông
Ông Nguyễn Trường Duy, nguyên Trưởng phòng Quản lý xây dựng công trình (Sở NN-PTNT Hà Nội) chia sẻ về giải pháp xây dựng đập dâng cuối sông Đà và tuyến công trình chuyển nước vào sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch và Hồ Tây.
Dự án tổng thể cấp nước tự chảy “hồi sinh” 4 dòng sông Hà Nội
Giải pháp xây đập dâng trên sông Đà sau cống Thuần Mỹ (huyện Ba Vì, Hà Nội) đã được ông Nguyễn Trường Duy, nguyên Trưởng phòng Quản lý xây dựng (Sở NN-PTNT Hà Nội), công bố cách đây 15 năm, trên Báo Nông nghiệp Việt Nam số 117 (3486) ngày 14/6/2010 thông qua bài viết “Hà Nội: Làm sống lại các sông nội thành thế nào?”.

Ông Nguyễn Trường Duy, tác giả của giải pháp xây dựng đập dâng trên sông Đà, và phương án tuyến chuyển nước vào sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch. Ảnh: Minh Phúc.
Với kinh nghiệm làm thủy lợi ở tỉnh Lai Châu, tỉnh Hà Sơn Bình (cũ), tỉnh Hà Tây (cũ) và làm quản lý xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn Hà Nội, ông Duy thuộc như lòng bàn tay đặc điểm từng dòng sông và mạng lưới cấp nước khu vực phía Tây Thủ đô.
Nhờ các dữ liệu thu thập được trong quá trình công tác, ông đã phân tích và đưa ra giải pháp tổng thể cấp nước tự chảy cho các dòng sông phía Tây Hà Nội (sông Tích, sông Nhuệ, sông Đáy và sông Tô Lịch) mà không phải tái định cư cũng như bơm nước với chi phí tốn kém, chỉ cần đầu tư một lần để sử dụng vĩnh viễn.
Ông Duy phân tích, dòng sông Đà nằm ngay dưới chân núi Ba Vì (khu vực K9), nước rất trong. Nếu lấy được nước ở đó để đưa về Hồ Tây thì rất tốt. Đặc biệt, có câu “Chúng thủy giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (tất cả các dòng sông đều chảy về hướng Đông, chỉ có sông Đà chảy về hướng Bắc), do đó, địa hình và mực nước ở khu vực cuối nguồn sông Đà rất cao so mực nước Hồ Tây Hà Nội.
Cống Thuần Mỹ (huyện Ba Vì) lấy nước vào sông Tích, nằm trên bờ hữu sông Đà, có 3 cửa, mỗi cửa rộng 6m và có 2 tầng lấy nước, tầng dưới cao trình đáy +5,5m và tầng trên cao trình đáy +10m. Với cao trình đáy cống thiết kế lấy nước như trên thì mực nước sông Đà trước cống dao động từ +9m đến +12m và lấy qua cống khoảng 100m3/s.
Nước vào sông Tích về đến Sơn Tây (Km37) có dòng chảy hở tự do không áp nên tổn thất ít, sẽ sử dụng cống điều tiết để điều chỉnh mực nước ở Sơn Tây khoảng +10m.
Trong khi đó, mực nước yêu cầu của sông Đáy (tại cống Cẩm Đình) chỉ 5,4m, sông Nhuệ (tại cống Liên Mạc) là 3,7m và sông Tô Lịch là +4,5m, nước hoàn toàn có thể tự chảy thông qua hệ thống kênh dẫn.
Tuy nhiên, do vài năm gần đây, việc khai thác cát và biến động của dòng chảy đã hạ thấp cao trình đáy sông Đà. Mực nước sông Đà trước cống Thuần Mỹ rất thấp, không lấy được nước vào sông Tích. Vì vậy cần làm đập dâng trên sông Đà để trả lại cao trình đáy sông Đà và mực nước theo thiết kế của cống Thuần Mỹ.

Tuyến kênh chuyển nước từ thị xã Sơn Tây về sông Nhuệ, sẽ chạy dọc theo trục đường Tây Thăng Long, đã được quy hoạch và cắm mốc chỉ giới. Ảnh: Minh Phúc.
Về tuyến dẫn nước, ông Duy phân tích, mặc dù toàn tuyến từ cống Thuần Mỹ về đến Hồ Tây dài khoảng 70km, nhưng lại phân ra làm 3 đoạn.
Đoạn thứ nhất, từ cống Thuần Mỹ về đến Sơn Tây là dòng sông Tích dài 37km, đã có sẵn. Đoạn thứ hai, từ Sơn Tây về đến vành đai 4 (xã Tân Hội, Đan Phượng) dài khoảng 21km, vẫn là đất nông nghiệp, đã được cắm mốc chỉ giới, có thể làm kênh hở, dưới là kênh dẫn nước, trên là đường giao thông. Đoạn thứ ba, từ đường vành đai 4 đến đường Võ Chí Công ra sông Tô Lịch dài khoảng 10km, đường đang thi công có đoạn đã xong chiều rộng B=60,5m, đoạn này lưu lượng nhỏ (5m3/s) nên có thể làm kênh hộp hoặc xi phông đi ngầm dưới vỉa hè đường.
“Cái hay của phương án trên là thành phố Hà Nội không cần phải di dân tái định cư mà chỉ phải giải phóng mặt bằng, nên triển khai thi công rất thuận lợi, giá thành hạ, không làm ảnh hưởng đến quy hoạch chung của Thủ đô”, ông Duy nhấn mạnh.
Về lưu lượng lấy nước đầu vào, luôn chủ động lấy nước vào sông Tích qua cống Thuần Mỹ khoảng 100m3/s. Tại cống điều tiết Sơn Tây chuyển 40m3/s theo sông Tích về sông Bùi; còn 60m3/s theo đường trục quy hoạch Tây Thăng Long về đến sông Đáy xả 30m3/s; về đến sông Nhuệ xả 25m3/s, còn lại 5m3/s về sông Tô Lịch và Hồ Tây.
Lưu lượng lấy nước (100m3/s) này chỉ bằng 60% lưu lượng của 3 con sông Tích, Nhuệ, Đáy đã được cấp phép, nên không ảnh hưởng đến việc thiếu nguồn của các vùng hạ du.
Tính ưu việt khi xây đập dâng trên sông Đà
Về vị trí xây đập dâng trên sông Đà, ông Duy cho biết, có thể lựa chọn ở khu vực cầu Trung Hà (huyện Ba Vì) để cấp nước chủ động luôn cho cả trạm bơm Sơn Đà và trạm bơm Trung Hà (hiện đang phải vận hành trạm bơm dã chiến).
Thứ hai, xây đập dâng ở cuối sông Đà đúng với Quyết định số 50 của Thủ tướng Chính phủ ngày 6/2/2023 phê duyệt Quy hoạch tổng thể lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đoạn 9 sông Đà từ Hợp Thanh (TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình) về đến xã Phong Vân (huyện Ba Vì, Hà Nội). Chức năng nguồn nước của đoạn sông này là cấp cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông thủy và sử dụng cho thủy điện. Vậy, cuối sông Đà có đập dâng là phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt. Bởi đập dâng có thể sử dụng đa mục tiêu như du lịch, phát điện cột nước thấp,… Hiện đã có một số doanh nghiệp sẵn sàng bỏ kinh phí đầu tư xây đập dâng kết hợp lắp đặt các tổ máy phát điện theo hình thức đối tác công tư.

Ý tưởng dẫn nước sông Đà hồi sinh các dòng sông phía Tây Hà Nội
Ý tưởng dẫn nước sông Đà hồi sinh các dòng sông phía Tây Hà Nội đã được ông Nguyễn Trường Duy công bố từ năm 2010. Ảnh: Minh Phúc.
Có tuyến đập dâng trên sông Đà chủ động cấp nước cho sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ thì đập dâng trên sông Hồng và sông Đuống sẽ giảm chiều cao, đảm bảo an toàn hơn khi gặp những trận lũ lịch sử.
Để khai thác đa giá trị, đa mục tiêu của nguồn nước, sẽ mời gọi nhà đầu tư nghiên cứu, đầu tư đập dâng theo hình thức đối tác công tư, khai thác thu hồi vốn từ phát điện và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của đập dâng sẽ có nhiều nhà đầu tư tình nguyện tham gia.
Đặc biệt, chất lượng nước sông Đà luôn trong sạch, vì bùn cát và tạp chất đã được lắng đọng qua 3 hồ thủy điện phía thượng nguồn (Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu) và các hồ thủy điện trên sông nhánh (Huội Quảng, Bản Chát, Nậm Chiến, Nậm Na…), đủ tiêu chuẩn cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và nước thô cho sinh hoạt dân sinh, cấp bổ sung vào Hồ Tây không phải qua xử lý mà không ảnh hưởng đến việc bảo tồn thủy sinh vật sống trong Hồ Tây.
Để hiện thực hóa ý tưởng này, ông Nguyễn Trường Duy đã tính toán chi tiết từng hạng mục đầu tư và chi phí cho từng hạng mục, gồm chi phí bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và chi phí dự phòng, trượt giá với tổng số tiền 16.200 tỷ đồng. Tuy nhiên, do thời lượng bài viết có hạn, nên không thể đề cập chi tiết trong bài viết này.
“Giải pháp cấp nguồn tự chảy bền vững cho sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch và các ao hồ sông trong nội thành chỉ đầu tư một lần, chi phí không cao nhưng mang lại hiệu quả rất lớn, luôn chủ động cung cấp đủ nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh, du lịch và các ngành kinh tế khác”, ông Nguyễn Trường Duy chia sẻ.






